Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Kiến thức cơ bản về thú y

Kiến thức cơ bản về thú y .

1. Nhóm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở gà:
Tác nhân gây bệnh có tính truyền nhiễm ở vật nuôi có thể chia làm 4 loại: Vi rút (siêu vi trùng), vi trùng (vi khuẩn), nấm và ký sinh trùng.
a. Vi rút: Vi rút hay còn gọi là siêu vi trùng, là tác nhân gây bệnh siêu nhỏ, trong phòng thí nghiệm các tác nhân này dễ dàng đi qua lọc (qua phin).
- Vi rút có 1 số tính chất đặc trưng:
+ Phát bệnh nhanh, ồ ạt thành đại dịch theo mùa vụ, tốc độ lây lan nhanh, tràn qua khu vực chăn nuôi như cơn bão. Tuy nhiên dịch vi rút xảy ra mạnh nhưng tràn qua nhanh. Hết dịch, những vật sống sót lại bình thường. Có những loại dịch tự khỏi như dịch cúm mùa, dịch đau mắt đỏ ở người.
+ Vi rút thường khu trú trong vật chủ theo từng bộ phận cơ quan chuyên biệt cho từng loại vi rút như: Vi rút dại khu trú ở tế bào thần kinh; vi rút lở mồm long móng ở miệng và móng; vi rút tả ở ruột…
+ Vi rút không tồn tại lâu trong thiên nhiên, đất, nước, khí hậu…, mà đa số tiềm ẩn trong cơ thể sống, đến mùa vụ thì phát dịch.
+ Bệnh vi rút thường gây hại lớn ở gà con.
+ Bệnh vi rút chủ yếu phòng bằng vác xin; kháng sinh không có tác dụng chữa bệnh; bệnh phải chữa bằng kháng huyết thanh đặc hiệu theo từng loại vi rút.
b. Vi trùng:
- Vi trùng, thường gọi là vi khuẩn, là tác nhân gây bệnh gà tồn tại lâu dài trong thiên nhiên, đất, nước, khí hậu. Bệnh do vi trùng gây ra thường theo vùng địa lý. Bệnh xẩy ra với tốc độ không lớn, ít gây đại dịch, ít gây chết ồ ạt.
- Vi trùng gây bệnh nhờ nội và ngoại độc tố do vi trùng tiết ra.
- Bệnh vi trùng thường có thuốc kháng sinh đặc trị, có thể phòng bệnh bằng vác xin hoặc kháng sinh tổng hợp.
- Vi trùng thường chia làm các loại chính là:
+ Vi trùng Gram dương (bắt màu khi nhuộm gram trong phòng thí nghiệm). Các vi trùng Gram dương như: Đóng dấu lợn; bệnh nhiệt thán (bệnh than) trâu bò…
+ Vi trùng Gram âm (không bắt màu khi nhuộm gram trong phòng thí nghiệm). Các vi trùng gram âm như: Tụ huyết trùng heo bò gà…
+ Xoắn khuẩn: vi khuẩn gây bệnh lợn nghệ…
+ Ricketsia: vi khuẩn gây sốt ở động vật nhai lại…
c. Nấm:
- Vi nấm là loại vi sinh vật ký sinh trên động vật, thực vật, gây bệnh cho vật chủ, có tính chất lây lan.
- Bệnh nấm tuy lây lan chậm, chủ yếu lây do tiếp xúc, song rất khó chữa.
- Kháng sinh ít có tác dụng với bệnh nấm. Để điều trị bệnh nấm thường phải dùng thuốc đặc trị.
d. Ký sinh trùng:
- Ký sinh trùng là những động vật (đơn bào và đa bào) sống ký sinh trên da, trong ruột, trong máu động vật chủ.
- Ký sinh trùng đa số sống ký sinh, ăn bám, không giết hại nhưng làm suy yếu vật chủ như: giun, sán, ghẻ, chấy rận, vét…
Một số ký sinh trùng có thể gây dịch bệnh và giết chết vật chủ như: ký sinh trùng máu (sốt rét, tiêm mao trùng trâu bò), ký sinh trùng đường ruột như cầu trùng gà, thỏ…
Một số ký sinh trùng có thể gây sốt cho vật chủ theo chu kỳ sinh sản của ký sinh trùng như: lê dạng trùng, tiêm mao trùng, sốt rét (các ký sinh trùng đường máu)...
- Ký sinh trùng có tính lây lan nhưng chậm, đa phần phải qua ký chủ trung gian, như muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét cho người, ốc truyền bệnh sán lá cho người và động vật…
- Ký sinh trùng có thể tạo sự miến dịch cho cơ thể, có thể phòng bệnh bằng vác xin như: Cầu trùng, sốt rét,…
- Kháng sinh không có tác dụng với ký sinh trùng. Để chữa bệnh ký sinh trùng, phải sử dụng các thuốc đặc trị như: Delagin, qui nin (ký ninh) trị sốt rét; tetramison trị giun sán; dipterex trị ghẻ, rận rệp…
2. Sức kháng bệnh của cơ thể gia súc gia cầm.
Sức đề kháng của cơ thể gà là khả năng chống chịu bệnh của cơ thể khi bị mầm bệnh xâm nhập. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, có vai trò là 1 kháng nguyên, kích thích cơ thể sản sinh kháng thể để chống bệnh. Khi gà ăn uống đầy đủ, sức khỏe tốt, sức chống bệnh sẽ cao, ngược lại sức chống bệnh sẽ kém, dễ phát sinh bệnh. Trong tự nhiên, có những giống gà có sức chống bệnh truyền nhiễm khá tốt như giống gà ta truyền thống.
2.1. Các yếu tố tham gia đề kháng cơ thể.
a. Da, niêm mạc và các dịch tiết ngoại vi:
- Bình thường da, niêm mạc lành lặn có tác dụng chống vi khuẩn xâm nhập cơ thể rất cao; Khi bị tổn thương khả năm xâm nhập của mầm bệnh được tăng lên. Da có tế bào Langgerhans có tính diệt khuẩn.
- Hầu hết các dịch tiết của cơ thể đều có tính sát khuẩn, bảo vệ cơ thể.
b.Gan, lách, thận:
- Gan có thể bào Kuppơ có khả năng thực bào rất cao. Hơn 80% vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể được giữ lại và tiêu diệt ở gan và lách.
- Thận là cơ quan đào thải mầm bệnh và độc tố, bảo vệ cơ thể.
c.  Hệ lâm ba:
- Tĩnh mạch bạch huyết: Là nơi chứa bạch cầu và kháng thể diệt khuẩn (nhìn chung không diệt được siêu vi trùng, siêu vi trùng có thể tồn tài được trong bạch cầu).
- Các hạch bạch huyết: Là các xoang có chứa tế bào thực bào, tiết chất lizôzim diệt khuẩn.
d. Ổ viêm: Ổ viêm khống chế mầm bệnh trong khu vực hẹp, không cho mầm bệnh lan rộng; Đó là một hàng rào ngăn cản mầm bệnh và độc tố lây lan.
Phản ứng viêm có các triệu chứng điển hình là: sưng- nóng - đỏ - đau.
 Khi ổ viêm đang hình thành (sưng nóng đỏ đau) thì không được tác động, mổ xẻ làm thủng hàng rào bảo vệ, tạo điều kiện cho mầm bệnh tẩu thoát và phát tán.
e. Thực bào: Là phản ứng tự vệ của cơ thể, do các bạch cầu truy tìm, chiếm đoạt, tiêu diệt và làm tiêu tan mầm bệnh.
Có 2 loại thực bào:
- Tiểu thực bào: Do bạch cầu đa nhân, lưu động thực hiện.
- Đại thực bào: Do các tế bào bạch cầu đơn nhân, tế bào Kupper thực hiện.
g. Kháng thể: Là các glôbulin do tế bào bạch cầu limpho B tiết ra, có khả năng chống lại các mầm bệnh theo cơ chế phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể.
Có 2 loại kháng thể là: Kháng thể không đặc hiệu và không thể đặc hiệu.
h. Các yếu tố miễn dịch dịch thể khác trong cơ thể: Như nước bọt, dịch vị...
2.2. Cơ sở tế bào của sự đáp ứng miễn dịch
a. Nguồn gốc của các tế bào đáp ứng miễn dịch.
Thời kỳ trong bào thai, các tế bào mầm dòng Lim phô được sinh ra từ túi Vitellin, sau đó chuyển đến gan, rồi đến cố định ở tủy xương. Tủy xương trở thành cơ quan sinh ra tế bào mầm duy nhất suốt đời của động vật. Các tế bào mầm là những tế bào vạn năng, chúng có thể biệt hóa thành các dòng tế bào khác nhau.
- Thoạt đầu các tế bào mầm được biệt hóa thành 2 dòng tế bào lớn là: Dòng tế bào mầm dạng Limphô và dòng tế bào mầm hệ tạo huyết.
+ Dòng tế bào mầm dạng Lim phô: Các tế bào này biệt hóa thành tiền tế bào T và tiền tế bào B.
Các tiền tế bào T và tiền tế bào B lần lượt rời tủy xương đến cư trú tại các cơ quan dạng Lim phô trung ương là tuyến Thy mus và túi Fabricius (Hoặc cơ quan tương đương), tại đây các tế bào trên được trưởng thành, huấn luyện, biệt hóa để trở thành các tế bào dạng Lim phô có chức năng chuyên biệt, có mặt trong hệ tuần hoàn hay các cơ quan Limphô ngoại vi.
+ Dòng tế bào mầm tạo huyết: Các tế bào mầm này sẽ biệt hóa để trở thành 3 dòng tế bào mầm khác là: các tế bào mầm dòng tủy, các tế bào mầm dòng hồng cầu và các tế bào khổng lồ.
Các tế bào mầm dòng tủy biệt hóa thành các thực bào đơn nhân hoặc tế bào bạch cầu hạt (trung tính, ái toan, ái kiềm).
Các tế bào mầm dòng hồng cầu là tiền thân của các hồng cầu.
Các tế bào khổng lồ sẽ sinh ra các tiểu cầu.
 Tóm lại: Các tế bào dòng lim phô tham gia trực tiếp vào trong các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu; các đơn nhân thực bào tham gia cả vào trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu; còn bạch cầu hạt, tế bào mast tham gia vào đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu.
b.Cơ cấu hệ thống miễn dịch.
Tương tự hệ thống thần kinh - thể dịch; hệ thống miễn dịch trong cơ thể cũng được chia thành 2 phần là phần trung ương và phần ngoại vi.
b.1: Hệ thống miễn dịch trung ương.
Hệ thống miễn dịch trung ương ở động vật (chủ yếu là loại chim và thú) bao gồm tuyến Thymus và túi Fabricius ở chim (hoặc cơ quan tương đương ở thú).
Đặc điểm chung là các Lim phô bào trung ương không chịu ảnh hưởng kích thích các kháng nguyên đối với cơ thể.
 - Tuyến Thymus (tuyến ức) là nơi luyện tập, đào tạo các thy mô bào non trẻ trở thành tế bào T biệt hóa đảm nhiệm các chức năng chuyên biệt.
Tế bào T: Viết tắt của chữ Thymus, có khả năng nhận dạng kháng nguyên (vi khuẩn, vật lạ) để truyền tín hiệu đó cho tế bào B sản xuất kháng thể.
Ở tuyến Thymus, có sự chọn lọc tế bào rất cao, sự phân bào cao gấp 7 lần các tổ chức khác; 80-90% tế bào được sinh ra, bị chết tại chỗ, chỉ một lượng ít tế bào được trưởng thành.
 - Túi Fabricius là cơ quan lim phô trung ương của lớp chim, nằm ở phần cuối đường tiêu hóa. Ở gà túi hình thành từ khi phôi 10 ngày tuổi và biến mất hoàn toàn sau 1 năm tuổi.
Ở lớp thú (động vật có vú) tủy xương có vai trò như túi Fabricius của lớp chim.
Túi Fabricius (và cơ quan tương đương ở thú) có chức năng sản sinh ra tế bào B (viết tắt của chữ Bursa) là tế bào đáp ứng miễn dịch, sản xuất ra kháng thể (globulin).
b.2: Hệ thống miễn dịch ngoại vi.
Hệ thống miễn dịch ngoại vi gồm hạch bạch huyết, tuyến hạnh nhân, hệ thống miễn dịch đường tiêu hóa, lách, tủy xương.
Cơ quan dạng lim phô ngoại vi phát triển nhờ có sự kích thích của kháng nguyên lạ vào cơ thể.
b.2.1. Hạch bạch huyết: Là hệ thống hạch phân bố đều khắp cơ thể: cấu tạo gồm 2 vùng vỏ và tủy.
 - Vùng vỏ: Có nhiều tế bào dạng lim phô
  + Vỏ nông: Là địa hạt của tế bào B
  + Vỏ sâu: Là địa hạt của tế bào T
 - Vùng tủy: có nhiều nang chứa tế bào B và tế bào T cùng đại thực bào.
Trung bình 1 gam hạch trong 1 giờ có 3 x 107 tế bào lim phô đi ra (gồm các tế bào được tạo tại chỗ, tế bào từ mạch bạch huyết, từ máu đến)
b.2.2. Lách: Chỉ khi tuyến Thymus và túi Fabricius (cơ quan tương đương) hình thành mới có tế bào dạng Lim phô tới lách theo đường máu.
- Phần tủy trắng của lách: Tập trung các tế bào dạng Lim phô.
- Phần tủy đỏ: Tập trung các xoang máu.
Những tế bào dạng lim phô T bao quanh động mạch, tập trung thành nang Lim phô trong vùng tủy trắng.
+ Khi có kích thích kháng nguyên, các nang trở thành cá trung tâm mầm.
+ Vùng bờ nằm giữa tủy trắng và tủy đỏ là vùng lẫn lộn tế bào B và tế bào T cùng các tế bào đại thực bào, tế bào bạch tuộc.
+ Các tế bào dạng Lim phô, kháng thể đường tuần hòan được trao đổi ở lách chủ yếu là tại vùng bờ.
 + Về phương diện miễn dịch học, lách là một màng lọc lớn để xử lý các kháng nguyên lưu hành trong cơ thể bằng đường máu.
b.2.3. Tuyến hạnh nhân: Là một nhóm tổ chức dạng lim phô, nằm quanh vùng hầu để hình thành vòng Waldeyer, án ngữ đường của các lỗ tự nhiên thông vào cơ thể qua vòm họng.
- Tuyến hạnh nhân được cấu tạo từ những đám tế bào dạng lim phô, tập trung thành các nang lim phô và các trung tâm mầm.
- Khác với các hạch lim phô ngoại vi, ở đây tập trung rất cao các tế bào sản xuất kháng thể IgA (tế bào B); Tế bào T chỉ chiếm 1 tỷ lệ rất thấp. (Ig = immuno globulin)
b.2.4. Tổ chức dạng Lim phô đường tiêu hóa.
Gồm 2 loại: Tập trung thành mảng Payer và dạng phân tán.
- Mảng Payer: Gồm các nang Lim phô và trung tâm mầm, giữa chúng là tế bào T, các mảng Payer nằm về phía bờ tự do của ruột.
- Tập hợp các tế bào phân tán: nằm rải khắp ống tiêu hóa. Chủ yếu là tế bào B, sản sinh kháng thể IgA và 1 số lượng ít tế bào T.
Sau khi sinh, những tế bào dạng lim phô mới đến ruột cư trú.
Nhìn chung tổ chức dạng Lim phô đường tiêu hóa hoạt động rất mạnh do thường xuyên bị kích thích bởi các kháng nguyên đường ruột.
b.2.5. Tủy xương:
- Tủy xương là nơi sản sinh ra tế bào mầm, nguồn gốc của tế bào máu và các tế bào hệ miễn dịch. Là cơ quan tạo tế bào B (Tương đương túi Fabricius ở chim). Trong tủy xương có đủ các dòng tế bào tạo máu: dòng lim phô, dòng tạo huyết gồm tiểu cầu, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân, hồng cầu...
Các tế bào T, B, đại thực bào, có thể trưởng thành ngay tại tủy xương.
c. Sự tuần hoàn của các tế bào dạng Lim phô trong cơ thể.
Tĩnh mạch bạch huyết là một hệ thống mở (chỉ có tĩnh mạch bạch huyết, không có động mạch bạch huyết), ở ngoại vi từ các khoảng gian bào, bạch huyết cùng các tế bào dạng Lim phô và đại thực bào được đi chuyển theo mạch bạch huyết đến các hạch bạch huyết của các khu vực tổ chức. Các mạch bạch huyết ra của các hạch họp lại với nhau, cuối cùng đổ về ống ngực, hay ống bạch huyết phải để vào máu. Các tế bào dạng Lim phô lưu hành trong máu theo các huyết quản và một phần thoát khỏi huyết quản ở ti vi mạch quản để trở về hạch bạch huyết.
Thời gian cần thiết để tế bào T đi một vòng qua toàn bộ cá hạch bạch huyết rồi trở về ống ngực là 18-24 giờ, đối với tế bào B, thời gian này là 30 giờ.
Tại lách, sự tuần hoàn của tế bào dạng Lim phô theo động mạch lách vào đến vi quản, một số thoát ra ở vùng bờ, ở ống Lim phô quanh động mạch. Số còn lại vào tủy đỏ, rồi theo tĩnh mạch lách trở về. Tại lách không có mạch bạch huyết chính đưa các tế bào dạng Lim phô rời khỏi lách như các hạch  bạch huyết. Thời gian tuần hoàn qua lách của tế bào T là 5-6 giờ; Tế  bào B cần thời gian 8 giờ.
Ở các cơ quan dạng Lim phô ngoại vi, các tế bào T và tế bào B đề được thoát ra cũng một chỗ, song mỗi loại lại đi về một hướng dành riêng cho chúng; Tế bào T đi về vùng phụ thuộc tuyến Thymus; Tế bào B đi về vùng không phụ thuộc tuyến Thymus.
d. Một số đặc tính và các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của kháng thể.
- Kháng thể do tế bào B sản xuất (TB plastma).
- Kháng thể có tính đặc hiệu và không đặc hiệu
Tính  đặc hiệu là tính chất rập khuôn của mẫu kháng nguyên.
- Kháng thể không thấm qua được màng tế bào, vì vậy, đối với vi rút, kháng thể chỉ có tác dụng ở thời kỳ đầu của bệnh. Khi vi rút đã xâm nhập vào trong tế bào, kháng thể không còn tác dụng nữa. Kháng huyết thanh chữa bệnh vi rút chỉ có tác dụng khi bệnh mới phát, tức là khi vi rút chưa xâm nhập tế bào.
- Do có hiện tượng "Trí nhớ miễn dịch"; các đặc tính miễn dịch được tập nhiễm việc tiêm phòng nhắc lại (hoặc lần sau) bao giờ cũng tạo nhiều kháng thể hơn lần trước.
- Việc tạo kháng thể chịu ảnh hưởng nhiều của các trợ chất kèm kháng nguyên. Có trợ chất, hiệu lực sản sinh kháng thể cao hơn.
Ứng dụng: Sản xuất  vac xin keo phèn và kháng huyết thanh chống uốn ván.

3. Cơ chế phòng bệnh bằng vác xin.
Phòng bệnh bằng vác xin là việc đưa vi trùng, siêu vi trùng yếu hoặc đã chết (kháng nguyên) vào cơ thể, nhằm tập dượt, báo động, huấn luyện hệ thống miễn dịch, sẵn sàng chiến đấu khi có các vi trùng siêu vi trùng gây bệnh xâm nhập.
a. Tác dụng của việc tiêm phòng bằng vac xin
Tiêm vac xin phòng bệnh là quá trình đưa kháng nguyên vào cơ thể động vật, kích thích cơ thể sản sinh kháng thể, nhằm tạo ra sức đề kháng, chủ động tạo miễn dịch đối với các loại bệnh truyền nhiễm.
Trong thú y, phòng  bệnh có ý nghĩa rất to lớn, phòng bệnh hơn chữa bệnh.
 Vác xin phòng bệnh có 2 loại chính là: vac xin hoạt hóa (sống) và vac xin vô hoạt (keo phèn, vác xin chết). Vac xin sống có hiệu lực dài hơn vac xin chết.
b. Một số điểm chú ý khi sử dụng vac xin.
- Liều lượng, thời hạn sử dụng đối với mỗi loại vac xin, đọc hướng dẫn ở mác lọ thuốc.
- Quy luật bệnh gia súc gia cầm thường phát triển mạnh ở các tháng 4,5 và 8,9; trước và sau tết âm lịch.
Cần dự đoán, tiêm trước vụ dịch 20 ngày (đa số vac xin có hiệu lực sau khi tiêm 14 ngày).
- Đối với gà nuôi kép kín nhiều lứa/năm cần tuân thủ lịch tiêm theo lứa.
- Vac xin sống, khi tiêm không được sát trùng cồn mà phải sát trùng bằng thuốc đỏ.
- Không được tiêm vac xin vào động mạch hay tĩnh mạch (thường tiêm dưới da mang tai, cổ, bẹn).
- Tiêm mỗi cụm không kéo dài quá 3 ngày.
- Có thể tiêm 2- 3 loại vac xin cùng lúc ở các vị trí tiêm khác nhau.
- Vac xin chết không được trộn lẫn hoặc tiêm chung, chỗ với vac xin sống.
- Vac xin sống không nên tiêm chung với kháng huyết thanh
- Vac xin keo phèn, có chất hấp ngưng với 2 tác dụng chủ yếu là: Hấp thụ vi trùng, làm giảm lượng vac xin, tăng lượng vi trùng; đồng thời kéo dài thời gian miễm dịch cho gia súc.
Khi tiêm vac xin keo phèn phải lắc đều
- Vac xin keo phèn phải tiêm dưới da, không được tiêm bắp.
- Không nên dùng vac xin mới: Nên dùng loại đã sản xuất từ 6-10 tháng.
- Cất giữ vac xin nơi càng tối càng tốt
Vac xin vi trùng để nơi mát 2 đến 100C
Vac xin siêu vi trùng để nơi lạnh, dưới O0C
- Khi tiêm phòng nên tiêm thử từ diện nhỏ đến diện lớn.
- Vac xin đã khui, dùng thừa phải bỏ đi.
- Đa số các loại vac xin có thể dùng được cho động vật chửa đẻ.
4. Các chế phẩm hóa dược chữa bệnh truyền nhiếm.
a. Sulfamide.
a1. Đặc tính của sul fa mít.
- Thành phần chính của Sulfamide là Para - Amino - Sulfamide- benzen; Gống một nguyên liệu quan trọng để cấu tạo nên nhân vi trùng là PABA (Para- amino- benzoic- a xít). Khi ở một nồng độ thích hợp Sulfamide sẽ thay chỗ của PABA, làm cho vi trùng không phát triển được, tạo điều kiện cho thực bào tiêu diệt (axít folic cấu tạo TB vi khuẩn).
- Sulfamide thải trừ chủ yếu bằng đường thận, ở dạng hòa tan trong nước tiểu; Khi qua niệu quản, nó biến thành tinh thể, cọ xát, tổn thương niêm mạc, rỉ máu, đái buốt.
- Một ít Sulfamide bị Axêtin hóa ở gan
- Khi uống: sau 3-4 giờ, Sulfamide đạt nồng độ cao nhất trong máu.
a2. Nguyên tắc dùng Sulfamide
- Dùng sớm.
- Dùng liều cao từ đầu, duy trì liên tục.
- Chỉ dùng cho những vết thương sạch.
- Dùng nhiều lần trong ngày (2-3 giờ dùng 1 lần).
- Dùng kèm Nabica để chống Axêtin hóa.
     (1g SFM+ 0,5 lít nước + 2g Nabica).
- Khi dùng Sulfamide phải uống nhiều nước để chống cặn thận.
- Không dùng Sulfamide trong các trường hợp suy gan và thận.
- Không dùng Sulfamide với Nôvôcain vì:
        Nôvôcain + H2                PABA
- Không dùng với các thuốc phản Sulfamide như Adrênalin, rượu, thạch tím, iốt, opi, Piramidon, urotropin  vv...
- Tăng cường dinh dưỡng, tăng sinh tố để tăng sức đề kháng.
- Dùng 5 ngày, không có hiệu quả phải đổi thuốc.
Tối đa không dùng quá 10 ngày.
b.  Kháng sinh.
b1. Đặc tính của kháng sinh.
- Kháng sinh là những được phẩm thu được từ vi nấm, thực vật và tổng hợp, có tính chất diệt khuẩn, hay ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn (động vật không sản sinh được kháng sinh).
- Tất cả các loại kháng sinh đều có tính định khuẩn. Với liều lượng thích hợp, kháng sinh sẽ ngăn chặn sự sinh sản, tăng trưởng của tế bào vi trùng; hoặc ở liều thấp, tạo  cho vi trùng bị dị dạng, dễ bị tiêu diệt.
- Một số kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, phá vỡ tế bào vi khuẩn, hóa hỏng làm tan xác vi khuẩn.
Kháng sinh can thiệp vào lúc vi khuẩn đang tăng trưởng nhanh và phân bào, làm cho vi khuẩn không thể tăng mật độ được.
- Trong cơ thể, các loại kháng sinh có những hàng rào ngăn cản sinh học khác nhau, có những kháng sinh bị các men trong cơ thể phân hủy.
- Có những loại kháng sinh kỵ nhau, làm giảm hiệu lực của nhau; hoặc tương hợp, làm tăng hiệu lực của nhau khi dùng kết hợp.
- Các nhóm kháng sinh khác nhau có hoạt phổ khác nhau. Có loại kháng sinh đặc trị, có những kháng sinh hoạt phổ rộng.
- Kháng sinh ít có tác dụng với ký sinh trùng và siêu vi trùng.
- Phần lớn các kháng sinh khi dùng thường gây tác dụng phụ, rối loạn cơ thể, mệt mỏi, sốc phản vệ v.v...
- Kháng sinh có thể bị lờn do hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn.
b2. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh.
- Sử dụng sớm.
- Dùng liều cao từ đầu.
- Duy trì liên tục.
- Kết hợp đúng nguyên tắc các loại kháng sinh với nhau để giảm liều, giảm độc, tăng hoạt phổ và chống lờn thuốc.
- Kết hợp với các loại sinh tố và thuốc trợ lực.
- Kết hợp điều trị với biên pháp dinh dưỡng, tăng sức đề kháng.
- Chẩn đoán tốt để dùng đúng thuốc.
- Kết hợp với các loại thuốc trị triệu chứng để khôi phục chức năng.
b3. Phân loại các nhóm kháng sinh.
Kháng sinh đầu tiên được phân lập trong lịch sử là Penicilin(do Fleming phát hiện năm 1928). Đến nay đã có hàng trăm loại kháng sinh ra đời từ 3 nguồn chủ yếu là: kháng sinh nấm, kháng sinh thực vật và kháng sinh tổng hợp. Hiện tại có nhiều cách phân nhóm kháng sinh, có thể tạm chia thành các nhóm sau:
- Nhóm Penicilin - Cefalosporin: Gồm có các loại Penicilin, Ampicilin, các loại Cefa: đó là nhóm diệt khuẩn.
- Nhóm Aminosid: gồm Streptomycin, kanamycin, Gentamycin.
- Nhóm Tetracyclin: gồm 4 loại chủ yếu là tetracyclin, chlotetracyclin, Oxytetracyclin, Doxycyclin: đó là nhóm diệt khuẩn.
- Nhóm Phenicol: Gồm có chứa Chloramphenicol và Thiamphenicol: đó là nhóm định khuẩn.
- Nhóm Macrolid: Gồm có Erythromycin, Oleandomycin, Spiramycin, Lincomycin. Là nhóm định khuẩn.
- Nhóm Nitrofurantion gồm: Furantion, Furadantin, Nifurantin; Orafuran.
- Việc dùng kháng sinh bao giờ cũng gây tác dụng phụ là loạn khuẩn (giệt hết vi khuẩn có lợi), mất cân bằng sinh học, mất cân bằng trao đổi chất, vì vậy cần bổ sung thức ăn men và bổ sung các loại vi ta min nhóm B.
* Như vậy, để có giải pháp hữu hiệu phòng trị bệnh gà người chăn nuôi phải có đánh giá khái quát tình hình như:
+ Lứa tuổi xảy ra bệnh, khu vực xảy ra bệnh, mùa vụ xảy ra bệnh, tốc độ xảy ra bệnh, qui mô xảy ra bệnh…
+ Việc phòng bệnh bằng vác xin: đã chủng loại vác xin nào, thời gian bao lâu…

+ Từ đó phải phán đoán, chẩn đoán, kết luận bệnh gặp phải là bệnh vi rút, bệnh vi khuẩn hay bệnh ký sinh trùng để có giải pháp phòng trị và liệu pháp dùng thuốc phù hợp.