Kiến thức cơ bản về thú
y .
1. Nhóm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở gà:
Tác nhân gây bệnh có tính truyền nhiễm ở vật nuôi có thể chia làm 4 loại: Vi rút (siêu vi trùng), vi trùng (vi khuẩn), nấm và ký
sinh trùng.
a. Vi rút: Vi rút hay còn gọi là siêu vi trùng, là tác
nhân gây bệnh siêu nhỏ, trong phòng thí nghiệm các tác nhân này dễ dàng đi qua
lọc (qua phin).
- Vi rút có 1 số tính chất đặc trưng:
+ Phát bệnh nhanh, ồ ạt thành đại dịch theo
mùa vụ, tốc độ lây lan nhanh, tràn qua khu vực chăn nuôi như cơn bão. Tuy nhiên
dịch vi rút xảy ra mạnh nhưng tràn qua nhanh. Hết dịch, những vật sống sót lại
bình thường. Có những loại dịch tự khỏi như dịch cúm mùa, dịch đau mắt đỏ ở
người.
+ Vi rút thường khu trú trong vật chủ theo
từng bộ phận cơ quan chuyên biệt cho từng loại vi rút như: Vi rút dại khu trú ở
tế bào thần kinh; vi rút lở mồm long móng ở miệng và móng; vi rút tả ở ruột…
+ Vi rút không tồn tại lâu trong thiên nhiên,
đất, nước, khí hậu…, mà đa số tiềm ẩn trong cơ thể sống, đến mùa vụ thì phát
dịch.
+ Bệnh vi rút thường gây hại lớn ở gà con.
+ Bệnh vi rút chủ yếu phòng bằng vác xin;
kháng sinh không có tác dụng chữa bệnh; bệnh phải chữa bằng kháng huyết thanh
đặc hiệu theo từng loại vi rút.
b. Vi trùng:
- Vi trùng, thường gọi là vi khuẩn, là tác
nhân gây bệnh gà tồn tại lâu dài trong thiên nhiên, đất, nước, khí hậu. Bệnh do
vi trùng gây ra thường theo vùng địa lý. Bệnh xẩy ra với tốc độ không lớn, ít
gây đại dịch, ít gây chết ồ ạt.
- Vi trùng gây bệnh nhờ nội và ngoại độc tố
do vi trùng tiết ra.
- Bệnh vi trùng thường có thuốc kháng sinh
đặc trị, có thể phòng bệnh bằng vác xin hoặc kháng sinh tổng hợp.
- Vi trùng thường chia làm các loại chính là:
+ Vi trùng Gram dương (bắt màu khi nhuộm gram
trong phòng thí nghiệm). Các vi trùng Gram dương như: Đóng dấu lợn; bệnh nhiệt
thán (bệnh than) trâu bò…
+ Vi trùng Gram âm (không bắt màu khi nhuộm
gram trong phòng thí nghiệm). Các vi trùng gram âm như: Tụ huyết trùng heo bò
gà…
+ Xoắn khuẩn: vi khuẩn gây bệnh lợn nghệ…
+ Ricketsia: vi khuẩn gây sốt ở động vật nhai
lại…
c. Nấm:
- Vi nấm là loại vi sinh vật ký sinh trên
động vật, thực vật, gây bệnh cho vật chủ, có tính chất lây lan.
- Bệnh nấm tuy lây lan chậm, chủ yếu lây do
tiếp xúc, song rất khó chữa.
- Kháng sinh ít có tác dụng với bệnh nấm. Để
điều trị bệnh nấm thường phải dùng thuốc đặc trị.
d. Ký sinh trùng:
- Ký sinh trùng là những động vật (đơn bào và
đa bào) sống ký sinh trên da, trong ruột, trong máu động vật chủ.
- Ký sinh trùng đa số sống ký sinh, ăn bám,
không giết hại nhưng làm suy yếu vật chủ như: giun, sán, ghẻ, chấy rận, vét…
Một số ký sinh trùng có thể gây dịch bệnh và
giết chết vật chủ như: ký sinh trùng máu (sốt rét, tiêm mao trùng trâu bò), ký
sinh trùng đường ruột như cầu trùng gà, thỏ…
Một số ký sinh trùng có thể gây sốt cho vật
chủ theo chu kỳ sinh sản của ký sinh trùng như: lê dạng trùng, tiêm mao trùng,
sốt rét (các ký sinh trùng đường máu)...
- Ký sinh trùng có tính lây lan nhưng chậm,
đa phần phải qua ký chủ trung gian, như muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét cho
người, ốc truyền bệnh sán lá cho người và động vật…
- Ký sinh trùng có thể tạo sự miến dịch cho
cơ thể, có thể phòng bệnh bằng vác xin như: Cầu trùng, sốt rét,…
- Kháng sinh không có tác dụng với ký sinh
trùng. Để chữa bệnh ký sinh trùng, phải sử dụng các thuốc đặc trị như: Delagin,
qui nin (ký ninh) trị sốt rét; tetramison trị giun sán; dipterex trị ghẻ, rận
rệp…
2. Sức kháng bệnh của cơ thể gia súc gia cầm.
Sức đề kháng của cơ thể gà là khả năng chống
chịu bệnh của cơ thể khi bị mầm bệnh xâm nhập. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, có
vai trò là 1 kháng nguyên, kích thích cơ thể sản sinh kháng thể để chống bệnh.
Khi gà ăn uống đầy đủ, sức khỏe tốt, sức chống bệnh sẽ cao, ngược lại sức chống
bệnh sẽ kém, dễ phát sinh bệnh. Trong tự nhiên, có những giống gà có sức chống
bệnh truyền nhiễm khá tốt như giống gà ta truyền thống.
2.1. Các yếu tố
tham gia đề kháng cơ thể.
a. Da, niêm mạc và các dịch tiết ngoại vi:
- Bình thường da, niêm mạc lành lặn có tác dụng chống vi
khuẩn xâm nhập cơ thể rất cao; Khi bị tổn thương khả năm xâm nhập của mầm bệnh được
tăng lên. Da có tế bào Langgerhans có tính diệt khuẩn.
- Hầu hết các dịch tiết của cơ thể đều có tính sát khuẩn,
bảo vệ cơ thể.
b.Gan, lách, thận:
- Gan có thể bào Kuppơ có khả năng thực bào rất cao. Hơn
80% vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể được giữ lại và tiêu diệt ở gan và lách.
- Thận là cơ quan đào thải mầm bệnh và độc tố, bảo vệ cơ
thể.
c. Hệ lâm ba:
- Tĩnh mạch bạch
huyết: Là nơi chứa bạch cầu và kháng thể diệt khuẩn
(nhìn chung không diệt được siêu vi trùng, siêu vi trùng có thể tồn tài được
trong bạch cầu).
- Các hạch bạch
huyết: Là các xoang có chứa tế bào thực bào, tiết
chất lizôzim diệt khuẩn.
d. Ổ viêm: Ổ viêm khống
chế mầm bệnh trong khu vực hẹp, không cho mầm bệnh lan rộng; Đó là một hàng rào
ngăn cản mầm bệnh và độc tố lây lan.
Phản ứng viêm có các triệu chứng điển hình là: sưng- nóng - đỏ - đau.
Khi ổ viêm đang hình
thành (sưng nóng đỏ đau) thì không được tác động, mổ xẻ làm thủng hàng rào bảo
vệ, tạo điều kiện cho mầm bệnh tẩu thoát và phát tán.
e. Thực bào: Là phản ứng
tự vệ của cơ thể, do các bạch cầu truy tìm, chiếm đoạt, tiêu diệt và làm tiêu
tan mầm bệnh.
Có 2 loại thực bào:
- Tiểu thực bào: Do bạch cầu đa nhân, lưu động thực hiện.
- Đại thực bào: Do các tế bào bạch cầu đơn nhân, tế bào Kupper thực hiện.
g. Kháng thể: Là các
glôbulin do tế bào bạch cầu limpho B tiết ra, có khả năng chống lại các mầm bệnh
theo cơ chế phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể.
Có 2 loại kháng thể là: Kháng thể không đặc hiệu và không thể đặc hiệu.
h. Các yếu tố miễn dịch dịch thể khác trong cơ thể: Như nước bọt, dịch vị...
2.2. Cơ sở tế bào
của sự đáp ứng miễn dịch
a. Nguồn gốc của các tế bào đáp ứng miễn dịch.
Thời kỳ trong bào thai, các tế bào mầm dòng Lim phô được
sinh ra từ túi Vitellin, sau đó chuyển đến gan, rồi đến cố định ở tủy xương. Tủy xương trở thành cơ quan sinh ra tế bào
mầm duy nhất suốt đời của động vật. Các
tế bào mầm là những tế bào vạn năng, chúng có thể biệt hóa thành các dòng tế
bào khác nhau.
- Thoạt đầu các tế bào mầm được biệt hóa thành 2 dòng tế
bào lớn là: Dòng tế bào mầm dạng
Limphô và dòng tế bào mầm hệ tạo huyết.
+ Dòng tế bào mầm
dạng Lim phô: Các tế bào này biệt hóa thành tiền tế
bào T và tiền tế bào B.
Các tiền tế bào T và tiền tế bào B lần lượt rời tủy xương
đến cư trú tại các cơ quan dạng Lim phô trung ương là tuyến Thy mus và túi Fabricius
(Hoặc cơ quan tương đương), tại đây các tế bào trên được trưởng thành, huấn luyện,
biệt hóa để trở thành các tế bào dạng Lim phô có chức năng chuyên biệt, có mặt
trong hệ tuần hoàn hay các cơ quan Limphô ngoại vi.
+ Dòng tế bào mầm
tạo huyết: Các tế bào mầm này sẽ biệt hóa để trở thành
3 dòng tế bào mầm khác là: các tế bào mầm
dòng tủy, các tế bào mầm dòng hồng cầu và các tế bào khổng lồ.
Các tế bào mầm dòng tủy biệt hóa thành các thực bào đơn
nhân hoặc tế bào bạch cầu hạt (trung tính, ái toan, ái kiềm).
Các tế bào mầm dòng hồng cầu là tiền thân của các hồng cầu.
Các tế bào khổng lồ sẽ sinh ra các tiểu cầu.
Tóm lại: Các tế bào dòng lim phô tham gia trực tiếp
vào trong các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu; các đơn nhân thực bào tham gia cả vào
trong đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu; còn bạch cầu hạt, tế bào
mast tham gia vào đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu.
b.Cơ cấu hệ thống miễn dịch.
Tương tự hệ thống thần kinh - thể dịch; hệ thống miễn dịch
trong cơ thể cũng được chia thành 2 phần là phần trung ương và phần ngoại vi.
b.1: Hệ thống miễn
dịch trung ương.
Hệ thống miễn dịch trung ương ở động vật (chủ yếu là loại
chim và thú) bao gồm tuyến Thymus và túi
Fabricius ở chim (hoặc cơ quan tương đương ở thú).
Đặc điểm chung là các Lim phô bào trung ương không chịu ảnh
hưởng kích thích các kháng nguyên đối với cơ thể.
- Tuyến Thymus (tuyến ức) là nơi luyện tập,
đào tạo các thy mô bào non trẻ trở thành tế bào T biệt hóa đảm nhiệm các chức năng
chuyên biệt.
Tế bào T: Viết tắt của chữ Thymus, có khả năng nhận dạng
kháng nguyên (vi khuẩn, vật lạ) để truyền tín hiệu đó cho tế bào B sản xuất kháng
thể.
Ở tuyến Thymus, có sự chọn lọc tế bào rất cao, sự phân bào
cao gấp 7 lần các tổ chức khác; 80-90% tế bào được sinh ra, bị chết tại chỗ, chỉ
một lượng ít tế bào được trưởng thành.
- Túi Fabricius là cơ quan lim phô trung ương
của lớp chim, nằm ở phần cuối đường tiêu hóa. Ở gà túi hình thành từ khi phôi
10 ngày tuổi và biến mất hoàn toàn sau 1 năm tuổi.
Ở lớp thú (động
vật có vú) tủy xương có vai trò như túi Fabricius của lớp chim.
Túi Fabricius (và cơ quan tương đương ở thú) có chức năng
sản sinh ra tế bào B (viết tắt của chữ Bursa )
là tế bào đáp ứng miễn dịch, sản xuất ra kháng thể (globulin).
b.2: Hệ thống miễn
dịch ngoại vi.
Hệ thống miễn dịch ngoại vi gồm hạch bạch huyết, tuyến hạnh
nhân, hệ thống miễn dịch đường tiêu hóa, lách, tủy xương.
Cơ quan dạng lim phô ngoại vi phát triển nhờ có sự kích
thích của kháng nguyên lạ vào cơ thể.
b.2.1. Hạch bạch
huyết: Là hệ thống hạch phân bố đều khắp cơ thể: cấu
tạo gồm 2 vùng vỏ và tủy.
- Vùng vỏ: Có nhiều
tế bào dạng lim phô
+ Vỏ nông: Là địa
hạt của tế bào B
+ Vỏ sâu: Là địa
hạt của tế bào T
- Vùng tủy: có
nhiều nang chứa tế bào B và tế bào T cùng đại thực bào.
Trung bình 1 gam hạch trong 1 giờ có 3 x 107
tế bào lim phô đi ra (gồm các tế bào được tạo tại chỗ, tế bào từ mạch bạch huyết,
từ máu đến)
b.2.2. Lách: Chỉ khi tuyến Thymus và túi Fabricius (cơ quan tương đương) hình thành
mới có tế bào dạng Lim phô tới lách theo đường máu.
- Phần tủy trắng của lách: Tập trung các tế bào dạng Lim
phô.
- Phần tủy đỏ: Tập trung các xoang máu.
Những tế bào dạng lim phô T bao quanh động mạch, tập
trung thành nang Lim phô trong vùng tủy trắng.
+ Khi có kích thích kháng nguyên, các nang trở thành cá
trung tâm mầm.
+ Vùng bờ nằm giữa tủy trắng và tủy đỏ là vùng lẫn lộn tế
bào B và tế bào T cùng các tế bào đại thực bào, tế bào bạch tuộc.
+ Các tế bào dạng Lim phô, kháng thể đường tuần hòan được
trao đổi ở lách chủ yếu là tại vùng bờ.
+ Về phương diện miễn dịch học, lách
là một màng lọc lớn để xử lý các kháng nguyên lưu hành trong cơ thể bằng đường
máu.
b.2.3. Tuyến hạnh
nhân: Là một nhóm tổ chức dạng lim phô, nằm quanh vùng
hầu để hình thành vòng Waldeyer, án ngữ đường của các lỗ tự nhiên thông vào cơ
thể qua vòm họng.
- Tuyến hạnh nhân được cấu tạo từ những đám tế bào dạng
lim phô, tập trung thành các nang lim phô và các trung tâm mầm.
- Khác với các hạch lim phô ngoại vi, ở đây tập trung rất
cao các tế bào sản xuất kháng thể IgA (tế bào B); Tế bào T chỉ chiếm 1 tỷ lệ rất
thấp. (Ig = immuno globulin)
b.2.4. Tổ chức
dạng Lim phô đường tiêu hóa.
Gồm 2 loại: Tập trung thành mảng Payer và dạng phân tán.
- Mảng Payer: Gồm các nang Lim phô và trung tâm mầm, giữa chúng là tế bào T, các
mảng Payer nằm về phía bờ tự do của
ruột.
- Tập hợp các tế bào phân tán: nằm rải khắp ống tiêu hóa.
Chủ yếu là tế bào B, sản sinh kháng thể IgA và 1 số lượng ít tế bào T.
Sau khi sinh,
những tế bào dạng lim phô mới đến ruột cư trú.
Nhìn chung tổ chức dạng Lim phô đường tiêu hóa hoạt động
rất mạnh do thường xuyên bị kích thích bởi các kháng nguyên đường ruột.
b.2.5. Tủy xương:
- Tủy xương là nơi sản sinh ra tế bào mầm, nguồn gốc của
tế bào máu và các tế bào hệ miễn dịch. Là cơ quan tạo tế bào B (Tương đương túi
Fabricius ở chim). Trong tủy xương có đủ các dòng tế bào tạo máu: dòng lim phô,
dòng tạo huyết gồm tiểu cầu, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân, hồng cầu...
Các tế bào T, B,
đại thực bào, có thể trưởng thành ngay tại tủy xương.
c. Sự tuần hoàn của các tế bào dạng Lim phô trong cơ
thể.
Tĩnh mạch bạch huyết là một hệ thống mở (chỉ có tĩnh mạch
bạch huyết, không có động mạch bạch huyết), ở ngoại vi từ các khoảng gian bào,
bạch huyết cùng các tế bào dạng Lim phô và đại thực bào được đi chuyển theo mạch
bạch huyết đến các hạch bạch huyết của các khu vực tổ chức. Các mạch bạch huyết
ra của các hạch họp lại với nhau, cuối cùng đổ về ống ngực, hay ống bạch huyết
phải để vào máu. Các tế bào dạng Lim phô lưu hành trong máu theo các huyết quản
và một phần thoát khỏi huyết quản ở ti vi mạch quản để trở về hạch bạch huyết.
Thời gian cần thiết để tế bào T đi một vòng qua toàn bộ
cá hạch bạch huyết rồi trở về ống ngực là 18-24 giờ, đối với tế bào B, thời
gian này là 30 giờ.
Tại lách, sự tuần hoàn của tế bào dạng Lim phô theo động
mạch lách vào đến vi quản, một số thoát ra ở vùng bờ, ở ống Lim phô quanh động
mạch. Số còn lại vào tủy đỏ, rồi theo tĩnh mạch lách trở về. Tại lách không có
mạch bạch huyết chính đưa các tế bào dạng Lim phô rời khỏi lách như các hạch bạch huyết. Thời gian tuần hoàn qua lách của
tế bào T là 5-6 giờ; Tế bào B cần thời
gian 8 giờ.
Ở các cơ quan dạng Lim phô ngoại vi, các tế bào T và tế
bào B đề được thoát ra cũng một chỗ, song mỗi loại lại đi về một hướng dành riêng
cho chúng; Tế bào T đi về vùng phụ thuộc tuyến Thymus; Tế bào B đi về vùng không
phụ thuộc tuyến Thymus.
d. Một số đặc tính và các yếu tố ảnh hưởng đến tác
dụng của kháng thể.
- Kháng thể do tế bào B sản xuất (TB plastma).
- Kháng thể có tính đặc hiệu và không đặc hiệu
Tính đặc hiệu là
tính chất rập khuôn của mẫu kháng nguyên.
- Kháng thể không thấm qua được màng tế bào, vì vậy, đối
với vi rút, kháng thể chỉ có tác dụng ở thời kỳ đầu của bệnh. Khi vi rút đã xâm
nhập vào trong tế bào, kháng thể không còn tác dụng nữa. Kháng huyết thanh chữa
bệnh vi rút chỉ có tác dụng khi bệnh mới phát, tức là khi vi rút chưa xâm nhập
tế bào.
- Do có hiện tượng "Trí nhớ miễn dịch"; các đặc
tính miễn dịch được tập nhiễm việc tiêm phòng nhắc lại (hoặc lần sau) bao giờ cũng
tạo nhiều kháng thể hơn lần trước.
- Việc tạo kháng thể chịu ảnh hưởng nhiều của các trợ chất
kèm kháng nguyên. Có trợ chất, hiệu lực sản sinh kháng thể cao hơn.
Ứng dụng: Sản xuất
vac xin keo phèn và kháng huyết thanh chống uốn ván.
3. Cơ chế phòng
bệnh bằng vác xin.
Phòng bệnh bằng vác
xin là việc đưa vi trùng, siêu vi trùng yếu hoặc đã chết (kháng nguyên) vào cơ
thể, nhằm tập dượt, báo động, huấn luyện hệ thống miễn dịch, sẵn sàng chiến đấu
khi có các vi trùng siêu vi trùng gây bệnh xâm nhập.
a. Tác dụng của việc
tiêm phòng bằng vac xin
Tiêm vac xin phòng bệnh là quá trình đưa
kháng nguyên vào cơ thể động vật, kích thích cơ thể sản sinh kháng thể, nhằm tạo
ra sức đề kháng, chủ động tạo miễn dịch đối với các loại bệnh truyền nhiễm.
Trong thú y, phòng bệnh có ý nghĩa rất to lớn, phòng bệnh hơn chữa
bệnh.
Vác xin phòng bệnh có 2 loại chính là: vac xin
hoạt hóa (sống) và vac xin vô hoạt (keo phèn, vác xin chết). Vac xin sống có hiệu
lực dài hơn vac xin chết.
b. Một số điểm chú ý khi sử dụng vac xin.
- Liều lượng, thời hạn sử dụng đối với
mỗi loại vac xin, đọc hướng dẫn ở mác lọ thuốc.
- Quy luật bệnh gia súc gia cầm thường
phát triển mạnh ở các tháng 4,5 và 8,9; trước và sau tết âm lịch.
Cần dự đoán, tiêm trước vụ dịch 20 ngày
(đa số vac xin có hiệu lực sau khi tiêm 14 ngày).
- Đối với gà nuôi kép kín nhiều
lứa/năm cần tuân thủ lịch tiêm theo lứa.
- Vac xin sống, khi tiêm không được sát
trùng cồn mà phải sát trùng bằng thuốc đỏ.
- Không được tiêm vac xin vào động mạch
hay tĩnh mạch (thường tiêm dưới da mang tai, cổ, bẹn).
- Tiêm mỗi cụm không kéo dài quá 3 ngày.
- Có thể tiêm 2- 3 loại vac xin cùng lúc
ở các vị trí tiêm khác nhau.
- Vac xin chết không được trộn lẫn hoặc
tiêm chung, chỗ với vac xin sống.
- Vac xin sống không nên tiêm chung với
kháng huyết thanh
- Vac xin keo phèn, có chất hấp ngưng
với 2 tác dụng chủ yếu là: Hấp thụ vi trùng, làm giảm lượng vac xin, tăng lượng
vi trùng; đồng thời kéo dài thời gian miễm dịch cho gia súc.
Khi tiêm vac xin keo phèn phải lắc đều
- Vac xin keo phèn phải tiêm dưới da,
không được tiêm bắp.
- Không nên dùng vac xin mới: Nên dùng
loại đã sản xuất từ 6-10 tháng.
- Cất giữ vac xin nơi càng tối càng tốt
Vac xin vi trùng để nơi mát 2 đến 100C
Vac xin siêu vi trùng để nơi lạnh, dưới
O0C
- Khi tiêm phòng nên tiêm thử từ diện
nhỏ đến diện lớn.
- Vac xin đã khui, dùng thừa phải bỏ đi.
- Đa số các loại vac xin có thể dùng được
cho động vật chửa đẻ.
4. Các chế phẩm hóa dược chữa bệnh truyền nhiếm.
a. Sulfamide.
a1.
Đặc tính của sul fa mít.
- Thành phần chính của Sulfamide là Para
- Amino - Sulfamide- benzen; Gống một nguyên liệu quan trọng để cấu tạo nên nhân
vi trùng là PABA (Para- amino- benzoic- a xít).
Khi ở một nồng độ thích hợp Sulfamide sẽ thay chỗ của PABA, làm cho vi trùng không
phát triển được, tạo điều kiện cho thực bào tiêu diệt (axít folic cấu tạo TB vi
khuẩn).
- Sulfamide thải trừ chủ yếu bằng đường
thận, ở dạng hòa tan trong nước tiểu; Khi qua niệu quản, nó biến thành tinh thể,
cọ xát, tổn thương niêm mạc, rỉ máu, đái buốt.
- Một ít Sulfamide bị Axêtin hóa ở gan
- Khi uống: sau 3-4 giờ, Sulfamide đạt
nồng độ cao nhất trong máu.
a2.
Nguyên tắc dùng Sulfamide
- Dùng sớm.
- Dùng liều cao từ đầu, duy trì liên tục.
- Chỉ dùng cho những vết thương sạch.
- Dùng nhiều lần trong ngày (2-3 giờ dùng
1 lần).
- Dùng kèm Nabica để chống Axêtin hóa.
(1g SFM+ 0,5 lít nước + 2g Nabica).
- Khi dùng Sulfamide phải uống nhiều nước
để chống cặn thận.
- Không dùng Sulfamide trong các trường
hợp suy gan và thận.
- Không dùng Sulfamide với Nôvôcain vì:
- Không dùng với các thuốc phản
Sulfamide như Adrênalin, rượu, thạch tím, iốt, opi, Piramidon, urotropin vv...
- Tăng cường dinh dưỡng, tăng sinh tố để
tăng sức đề kháng.
- Dùng 5 ngày, không có hiệu quả phải đổi
thuốc.
Tối đa không dùng quá 10 ngày.
b. Kháng sinh.
b1. Đặc tính của kháng sinh.
- Kháng sinh là những được phẩm thu được
từ vi nấm, thực vật và tổng hợp, có tính chất diệt khuẩn, hay ngăn cản sự phát
triển của vi khuẩn (động vật không sản sinh được kháng sinh).
- Tất cả các loại kháng sinh đều có tính
định khuẩn. Với liều lượng thích hợp, kháng sinh sẽ ngăn chặn sự sinh sản, tăng
trưởng của tế bào vi trùng; hoặc ở liều thấp, tạo cho vi trùng bị dị dạng, dễ bị tiêu diệt.
- Một số kháng sinh có tác dụng diệt
khuẩn, phá vỡ tế bào vi khuẩn, hóa hỏng làm tan xác vi khuẩn.
Kháng sinh can thiệp vào lúc vi khuẩn đang
tăng trưởng nhanh và phân bào, làm cho vi khuẩn không thể tăng mật độ được.
- Trong cơ thể, các loại kháng sinh có
những hàng rào ngăn cản sinh học khác nhau, có những kháng sinh bị các men
trong cơ thể phân hủy.
- Có những loại kháng sinh kỵ nhau, làm
giảm hiệu lực của nhau; hoặc tương hợp, làm tăng hiệu lực của nhau khi dùng kết
hợp.
- Các nhóm kháng sinh khác nhau có hoạt
phổ khác nhau. Có loại kháng sinh đặc trị, có những kháng sinh hoạt phổ rộng.
- Kháng sinh ít có tác dụng với ký
sinh trùng và siêu vi trùng.
- Phần lớn các kháng sinh khi dùng thường
gây tác dụng phụ, rối loạn cơ thể, mệt mỏi, sốc phản vệ v.v...
- Kháng sinh có thể bị lờn do hiện tượng
kháng thuốc của vi khuẩn.
b2.
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh.
- Sử dụng sớm.
- Dùng liều cao từ đầu.
- Duy trì liên tục.
- Kết hợp đúng nguyên tắc các loại kháng
sinh với nhau để giảm liều, giảm độc, tăng hoạt phổ và chống lờn thuốc.
- Kết hợp với các loại sinh tố và thuốc
trợ lực.
- Kết hợp điều trị với biên pháp dinh
dưỡng, tăng sức đề kháng.
- Chẩn đoán tốt để dùng đúng thuốc.
- Kết hợp với các loại thuốc trị triệu
chứng để khôi phục chức năng.
b3.
Phân loại các nhóm kháng sinh.
Kháng sinh đầu tiên được phân lập
trong lịch sử là Penicilin(do Fleming phát hiện năm 1928). Đến nay đã có hàng
trăm loại kháng sinh ra đời từ 3 nguồn chủ yếu là: kháng sinh nấm, kháng sinh
thực vật và kháng sinh tổng hợp. Hiện tại có nhiều cách phân nhóm kháng sinh, có
thể tạm chia thành các nhóm sau:
- Nhóm Penicilin - Cefalosporin: Gồm có các loại Penicilin, Ampicilin, các loại Cefa: đó là nhóm diệt
khuẩn.
- Nhóm Aminosid: gồm Streptomycin, kanamycin, Gentamycin.
- Nhóm Tetracyclin: gồm 4 loại chủ yếu là tetracyclin, chlotetracyclin, Oxytetracyclin,
Doxycyclin: đó là nhóm diệt khuẩn.
- Nhóm Phenicol: Gồm có chứa Chloramphenicol và Thiamphenicol: đó là nhóm định khuẩn.
- Nhóm Macrolid: Gồm có Erythromycin, Oleandomycin, Spiramycin, Lincomycin. Là nhóm định khuẩn.
-
Nhóm Nitrofurantion
gồm: Furantion, Furadantin, Nifurantin; Orafuran.
- Việc dùng kháng sinh
bao giờ cũng gây tác dụng phụ là loạn khuẩn (giệt hết vi khuẩn có lợi), mất cân
bằng sinh học, mất cân bằng trao đổi chất, vì vậy cần bổ sung thức ăn men và bổ
sung các loại vi ta min nhóm B.
* Như vậy, để có giải pháp hữu hiệu phòng trị bệnh gà người chăn nuôi phải có
đánh giá khái quát tình hình như:
+ Lứa tuổi xảy ra bệnh,
khu vực xảy ra bệnh, mùa vụ xảy ra bệnh, tốc độ xảy ra bệnh, qui mô xảy ra
bệnh…
+ Việc phòng bệnh bằng vác xin: đã chủng loại
vác xin nào, thời gian bao lâu…
+ Từ đó phải phán đoán, chẩn đoán, kết luận
bệnh gặp phải là bệnh vi rút, bệnh vi khuẩn hay bệnh ký sinh trùng để có giải
pháp phòng trị và liệu pháp dùng thuốc phù hợp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét